1. Khái niệm về FCR:
FCR
viết tắt của chữ FIATA Forwarder’s Certificate of Receipt hoặc
Forwarder’s Cargo of Receipt, là 1 trong các chứng từ của hoạt động giao
nhận vận tải (GNVT). FCR do FIATA đề xuất để sử dụng cho các người giao
nhận (NGN) quốc tế trong phạm vi tổ chức FIATA từ năm 1955.
FCR bản
thân nó là 1 giấy chứng nhận về các chỉ dẫn gửi hàng do NGN phát hành
xác nhận rằng anh ta đã nhận hàng hóa như ghi trong FCR với tình trạng
bên ngoài trong điều kiện tốt từ người gửi hàng (NGH) và anh ta đang giữ
chúng để thực hiện việc gửi hàng không hủy ngang cho người nhận hàng
(NNH) được chỉ định hoặc giữ lô hàng đó tùy theo quyền định đoạt của
NNH.
Chỉ dẫn gửi hàng (FIATA Forwarding Instructions - FFI) được
thỏa thuận giữa NGH và NNH chỉ có thể hủy bỏ hoặc sửa đổi nếu giao trả
lại bản gốc FCR và miễn là NGN vẫn có thể thực hiện được việc hủy bỏ
hoặc sửa đổi đó.
Ban đầu FCR được sử dụng khi người cung ứng bán hàng hóa theo điều kiện
EXW
và cần phải chứng minh rằng họ đã hoàn thành các nghĩa vụ đối với ngưới mua bằng việc xuất trình FCR. Trong trường hợp dùng
Thư tín dụng
,
người bán (NB) theo những điều kiện đó có thể xuất trình 1 FCR do NGN
cấp để nhận tiền bán hàng mà người mua (NM) đặt dưới quyền định đoạt của
NB theo các điều khoản của L/C.
2. Chức năng của FCR:
FCR
không có chức năng là 1 chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hóa và cũng
không là 1 hợp đồng vận tải đối với hàng hóa được mô tả ở mặt trước của
chứng từ này. FCR chỉ đơn giản là 1 biên nhận được cấp cho NGH để hỗ
trợ trong việc thanh toán L/C. Tuy nhiên, FCR cũng có thể là bằng chứng
của 1 Hợp đồng gửi hàng/ xử lý hàng hóa.
Do hàng hóa sẽ được giao
cho NNH được ghi đích danh trong FCR và việc giao hàng cho NNH không phụ
thuộc vào việc xuất trình FCR cho NGN hoặc đại lý của anh ta nên FCR là
chứng từ không có giá trị lưu thông. Có 1 quan niệm sai phổ biến về
tình trạng của FCR là chúng sẽ được phát hành “Theo lệnh” (To order) của
NNH hoặc ngân hàng (NH) mở L/C.
FCR không phải là chứng từ vận tải
vì không xác định được sự giao hàng thực sự mà chỉ là sự nhận hàng của
NGN mà thôi. FCR sẽ được NH chấp nhận nếu được qui định như vậy trong
L/C.
Theo UCP 600, các chứng từ không được coi là chứng từ vận tải
và Hợp đồng vận tải theo các Điều 19 đến Điều 25 bao gồm: Lệnh giao hàng
(Delivery Order-D/O), Biên lai Thuyền phó (Mate’s Receipt-M/R) và các
chứng từ của NGN như: Giấy chứng nhận nhận hàng (FIATA FCR), Giấy chứng
nhận vận tải (FIATA Forwarder’s Certificate of Transport-FCT), Biên lai
nhận hàng (FIATA Forwarder’s Warehouse Receipt - FWR).
3. Điều kiện và điều khoản của FCR:
Mặt
sau FCR có in các điều kiện kinh doanh chung (hoặc các điều kiện kinh
doanh tiêu chuẩn) của ngành GNVT tại quốc gia phát hành. Chứng từ chỉ có
thể được sử dụng cho các NGN tuân theo các điều kiện điều khoản này
trong hoạt động kinh doanh GNVT.
4. Trách nhiệm của NGN:
Đối
với FCR, NGN xác nhận rằng anh ta đang sở hữu hàng hóa với chỉ dẫn gửi
hàng không hủy ngang cho NNH hoặc giữ chúng theo quyền định đoạt của
NNH. Khi phát hành FCR, NGN nhận trách nhiệm giao hàng tại nơi đến thông
qua 1 đại lý giao hàng do anh ta chỉ định, nhưng với tư cách là NGN,
chứ không phải là người vận tải (NVT).
Theo Luật pháp của Mỹ, phương
diện chế tài đối với dịch vụ là rất quan trọng và vì vậy, NGN trong đa
số các trường hợp được coi là “NVT gián tiếp”. Đối với vận tải biển, họ
được coi là NVT không có tàu (Non Vessel Operating Common Carrier -
NVOCC).
NGN cũng thường được khuyến cáo nên mua bảo hiểm trách nhiệm của NGN cho FCR.
5. Nội dung chính của FCR:
a. Tên NGH hoặc Tên NGN
b.Tên và địa chỉ NNH
c. Ký mã hiệu
d. Số kiện, cách đóng gói
e. Tên hàng
f. Trọng lượng cả bì
g. Khối lượng
h. Ngày và nơi phát hành
i. Chỉ dẫn đối với cước và phí
j. Ghi chú khác
6. Phát hành FCR:
Ngay sau khi NGN nhận hàng, NGN tại cảng xếp hàng có thể lập tức cấp FCR cho NGH. NGN cần lưu ý 1 số điểm chính như sau:
1)
NGN hoặc đại lý (chi nhánh, NGN trung gian) của anh ta đã nhận hàng như
được mô tả trong FCR và hàng hóa nằm trong quyền định đoạt của NGN.
2) Tình trạng hàng hóa bên ngoài trong điều kiện tốt.
3) Các chi tiết ghi trên chứng từ rõ ràng phù hợp với các chỉ dẫn mà NGN đã nhận.
4)
Các điều kiện của chứng từ vận tải khác như Vận đơn (Bill of
Lading-B/L)… không trái với các nghĩa vụ mà NGN phải thực hiện theo
FCR.
Do việc giao hàng cho NNH không phụ thuộc vào việc xuất
trình FCR nên chỉ cần phát hành 1 bản gốc FCR duy nhất. Nếu có yêu cầu
cấp thêm các bản sao khác, phải ghi chú vào FCR câu “Bản sao, không có
giá trị lưu thông” để tránh tranh chấp.
Tất cả chi phí FOB cảng xếp
hàng do NGH thanh toán. Thời hạn giao hàng là ngày cấp FCR. Bộ chứng từ
phải được xuất trình trong thời hạn qui định tính từ ngày cấp FCR.
NGH phải trả phí FCR tương tự như phí B/L hoặc phí chứng từ.
7. Sử dụng FCR trong thương mại quốc tế:
FCR
cho phép NGN cấp cho NGH 1 loại chứng từ đặc biệt với mục đích là xác
nhận chính thức rằng NGH đã hoàn thành nghĩa vụ đồi với hàng hóa và hàng
hóa đã hoàn thành thủ tục XK. Theo hợp đồng mua bán, NB giao hàng cho
NM hoặc 1 NVT (hoặc 1 người nhận ủy thác gửi giữ hàng hóa khác (Baillee)
cho dù có được chỉ định bởi NM hay không) với mục đích chuyển giao hàng
hóa cho NM và không bảo lưu quyền định đoạt hàng hóa, NM được coi là đã
sở hữu hàng hóa vô điều kiện theo hợp đồng.
FCR được sử dụng với mục
định là giảm bớt khó khăn thường xảy ra trong giao dịch thương mại quốc
tế. NGN có thể thực hiện việc gom hàng từ nhiều người cung ứng khác
nhau. Từng người cung ứng riêng lẻ có thể bán hàng theo điều kiện Ex
Works (EXW) và vì vậy họ được quyền nhận tiền ngay sau khi anh ta giao
hàng cho NGN.
Trong các tình huống bình thường, NGH sẽ nhận 1 FIATA
B/L (FBL) để thực hiện các yêu cầu về chứng từ quy định trong L/C. Tuy
nhiên, NGN đôi khi được yêu cầu nhận hàng để gom lại (cũng như có thể để
thực hiện thêm các dịch vụ khác như đóng gói, dán nhãn, đánh ký mã
hiệu…) và có thể vì anh ta không muốn phát hành Vận đơn nhận hàng để xếp
(Received for shipment FBL) với tư cách là NVT không có tàu (NVOCC). Do
NVT thực chưa nhận hàng nên NGN không thể phát hành FBL và NGH sẽ bị
chậm trễ trong việc nhận tiền hàng. FCR có thể khắc phục được nhược điểm
đó: nó tạo nên sự đảm bảo đối với NM rằng NB đã giao hàng và không thể
nhận lại hàng đã giao. Vì vậy, NM có thể thanh toán tiền hàng cho NB,
thông qua việc xuất trình FCR hoặc anh ta yêu cầu NH chấp nhận FCR để
thanh toán theo L/C.
Việc sử dụng FCR còn tránh được những rắc rối
khi hoán đổi FBL trong mua bán tay 3 theo điều kiện FOB/FCA thanh toán
bằng L/C, là điều mà cả NGN và NH đều miễn cưỡng thực hiện, trong đó NM
trung gian muốn giấu tên người cung ứng và NM cuối cùng để họ không biết
nhau. NGN miễn cưỡng cấp lại 1 bộ FBL hoán đổi (switched FBL) khi nhận
được 1 bộ gốc FBL ban đầu để hủy. Thay vào đó, NM trung gian sẽ phải
giao lại FCR do NGN đã cấp để đổi lấy FCT hoặc FBL. NGN chỉ cấp FCT hoặc
FBL khi hàng hóa còn nằm trong quyền định đoạt của anh ta và không có
bất kỳ khiếu nại nào khác đối với lô hàng đó.
8. Lưu ý khi sử dụng FCR:
NGN
khi cấp FCR đã đảm bảo rằng hàng hóa sẽ không được giao trả lại cho
NGH: đây là 1 yếu tố quan trọng để củng cố lòng tin đối với chứng từ
này.
Ngay khi FCR được chuyển giao cho NM khi xuất trình thanh toán,
NB đã chuyển nhượng quyền lợi của hợp đồng cho NM và NB không còn bất kỳ
quyền nào để dừng hoặc trì hoãn việc vận chuyển hàng hóa.
Khi NGH
được cấp FCR, anh ta không thể được coi là đã bảo lưu quyền định đoạt
hàng hóa. 1 FBL Theo lệnh (To order FBL) sẽ thể hiện sự bảo lưu quyền
định đoạt đó.
FCR là 1 chứng từ giao hàng tự động cho NNH được ghi
trong FCR. Người yêu cầu được nhận hàng phải tự chứng minh là NNH được
ghi trong FCR.
Khi hàng đến cảng dỡ hàng, đại lý của NGN tại cảng dỡ
hàng sẽ lập tức giao giao hàng cho người mở L/C. Nếu NM đã nhận hàng
trong khi NB chưa nhận được tiền vì các lý do như: L/C quá hạn, xuất
trình chứng từ trễ hạn và những bất hợp lệ của bộ chứng từ… nếu NM không
muốn thanh toán do L/C quá hạn, đơn giản họ chỉ cần yêu cầu NH từ chối
thanh toán và khi đó NB phải chịu hậu quả.
Khi việc hiểu sai là phổ
biến về tính chất của FCR, NB cần phải quan tâm đến việc áp dụng đúng
cách và biết rõ những hạn chế của FCR khi được yêu cầu lập chứng từ này.
9. Kết luận
FCR
là chứng từ của NGN xác nhận việc NB đã giao hàng cho NGN để gửi cho
NNH tại 1 địa điểm nhận hàng ở cảng xếp hàng, với tình trạng bên ngoài
của hàng hóa trong điều kiện tốt, hàng hóa được đặt trong quyền định
đoạt không hủy ngang hoặc theo chỉ dẫn của NNH, hàng hóa không bị cản
trở hoặc thuộc quyền sở hữu của bất kỳ Bên thứ 3 nào và hàng hóa không
bị cấm XK. FCR không có giá trị lưu thông và không có chức năng của 1
chứng từ quyền sở hữu hàng hóa 1 Hợp đồng vận tải như FCT và FBL.
Ngày
nay xu hướng sử dụng FCR ngày càng phổ biến hơn trong thương mại quốc
tế đối với hàng lẻ vận chuyển bằng đường biển hoặc các lô hàng phải đóng
vào kho trước khi xếp lên các phương tiện vận tải khác do những ưu điểm
của FCR mang lại cho các bên liên quan như: NGH có thể nhanh chóng nhận
tiền, NNH có thể nhận hàng ngay khi hàng đến, thuận tiện cho NGN khi
thực hiện gom hàng hoặc các dịch vụ xử lý hàng hóa khác hoặc khi phải
phát hành FBL hoán đổi, NGN có thể phát hành FCR đúng với tư cách là NGN
của họ và là 1 trong các loại chứng từ để làm thủ tục NK…
Tuy
nhiên, cần nắm vững cách thức sử dụng, chuẩn bị nhanh chóng và chính xác
bộ chứng từ để xuất trình thanh toán đúng thời hạn nhằm tránh những
thiệt hại có thể xảy ra khi hàng đã giao cho NNH mà chưa nhận được tiền
từ NH.
theo LAPRO.EDU.VN























