Phát triển cảng biển: Cần nhanh chóng triển khai PPP

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây lĩnh vực cảng biển đã được đầu tư cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, khả năng vận chuyển hàng hóa thông qua các cảng từ 103 triệu tấn/năm (2002) lên gần 300 triệu tấn/năm (2012), tăng 286%. Dù vậy, trong thời gian tới Việt Nam vẫn cần khoảng 110 tỷ USD cho hạ tầng giao thông. Đối với ngành giao thông - vận tải, nguồn vốn đầu tư cho các dự án giao thông trong năm năm tới là rất lớn. Dự kiến, nguồn ngân sách nhà nước (kể cả ODA) sẽ chỉ đáp ứng 38%, nguồn trái phiếu chính phủ đáp ứng 18%, còn lại phải huy động ngoài ngân sách khoảng 44%. Cho nên đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) đang là xu hướng được Chính phủ lựa chọn.

 

Theo quy hoạch thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, tổng nhu cầu vốn đầu tư để phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020 ước tính khoảng 360÷440 nghìn tỷ đồng (18-22 tỷ USD); trong đó hạ tầng công cộng cảng biển khoảng 70÷100 nghìn tỷ đồng (35-50 tỷ USD), kết cấu hạ tầng bến cảng biển khoảng 290÷340 nghìn tỷ đồng (15-17 tỷ USD). Đây có thể nói là một nhu cầu vốn rất lớn. Trước tình hình đó, giải pháp chung là phải huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để phát triển cảng biển, trong đó áp dụng hình thức hợp tác nhà nước - tư nhân (PPP) đối với đầu tư cảng biển có quy mô lớn là không thể thiếu và giữ vai trò rất quan trọng.

 

Tuy nhiên, trong ngành giao thông vận tải, hiện nay mới chỉ có một số dự án đầu tư ngành đường bộ được triển khai theo hình thức PPP hoặc được dự kiến thực hiện theo hình thức này (6 dự án). Cảng biển thời gian vừa qua đã thu hút được những nguồn vốn đầu tư quan trọng từ khu vực tư nhân, nhưng chưa có dự án đầu tư cảng biển nào theo hình thức PPP một cách đầy đủ. Nhiều bất cập vẫn tồn tại như Quy hoạch và quản lý thực hiện theo quy hoạch cảng biển còn nhiều bất cập gây ra nhiều rủi ro cho hoạt động khai thác cảng. Điều này thể hiện rõ qua tình trạng nhóm cảng biển Đông Nam Bộ hiện nay: di dời các cảng biển trên sông Sài Gòn triển khai quá chậm việc cấp phép và đầu tư xây dựng cùng lúc quá nhiều bến container tại khu vực này đã gây nên tình trạng dư thừa công suất ngắn hạn, khan hiếm nguồn hàng cũng là một nguyên nhân làm giảm hiệu quả khai thác của các cảng khu vực Cái Mép, Thị Vải; Đầu tư thiếu đồng bộ giữa kết cấu hạ tầng bến cảng và kết cấu hạ tầng công cộng, hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt kết nối với cảng; Quản lý cạnh tranh cũng còn nhiều bất cập. Còn thiếu cơ chế, chính sách quản lý giá, phí để ngăn chặn cạnh tranh thiếu lành mạnh, trợ cấp chéo trong hoạt động khai thác cảng. Trong khi đó, hình thức hợp tác đầu tư PPP lại ngày càng phức tạp và các điều kiện pháp lý ngày càng nghiêm ngặt, nên những tồn tại, bất cập chính nêu trên chưa tạo ra một môi trường hẫp dẫn nhà đầu tư theo hình thức này.

 

Ngoài ra, nhà đầu tư còn nhận thấy những khó khăn, trở ngại như: đầu tư khai thác cảng biển đòi hỏi vốn lớn, vòng đời dự án lâu dài, khả năng hoàn vốn lâu, rủi ro cao, đặc biệt là đối với những cảng xây dựng mới có quy mô lớn, cần đầu tư đồng bộ cả hạ tầng công cộng và hạ tầng bến cảng; Cơ quan có thẩm quyền ký kết hợp đồng PPP với nhà đầu tư thiếu điều kiện để trở thành đối tác tin cậy, thiếu khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu hợp lý của họ; Môi trường chính sách còn chưa thuận lợi. Nghị định 71 về thực hiện thí điểm mô hình PPP ở Việt Nam chưa có hướng dẫn thực hiện, một số quy định chưa phù hợp khi áp dụng với cảng biển như quy định về vốn nhà nước không quá 30% khi tham gia dự án PPP là khó áp dụng với cảng biển bởi đầu tư vào hạ tầng công cộng chiếm tỷ trọng lớn trong các dự án xây dựng mới, trong khi tư nhân thường sẽ chỉ muốn tham gia đầu tư vào hạ tầng bến; Còn thiếu các quy định, hướng dẫn cụ thể về quy trình thực hiện dự án PPP đối với cảng biển. Hiện chưa có dự án áp dụng thí điểm cũng như chưa đề xuất được danh mục dự án đầu tư cảng biển kêu gọi đầu tư theo hình thức PPP.

 

Do đó, trong tương lại cần phải xác định rõ đầu tư cảng biển theo hình hình thức PPP cần một khung thể chế mạnh và sự phối hợp chặt chẽ giữa hệ thông quy định, đầu tư công và đầu tư tư nhân. Nhà đầu tư cần một môi trường pháp lý ổn định, có hiệu lực cao cũng như cần có cơ quan nhà nước có thẩm quyền đủ khả năng thực hiện các cam kết theo hợp đồng PPP. Tình trạng quản lý, sở hữu và khai thác cảng biển ở Việt Nam hiện nay chưa thể đáp ứng yêu cầu đó. Đồng thời cần tiến hành một số biện pháp như: Đổi mới mô hình quản lý cảng biển, trước hết cần thành lập cơ quan quản lý cảng biển theo mô hình Chính quyền cảng phù hợp với đặc thù phát triển thực tế; Xây dựng khung pháp lý và chính sách kêu gọi đầu tư rõ ràng hơn đối với đầu tư PPP vào cảng biển; Xây dựng hệ thống tài liệu hướng dẫn, tham chiếu đầy đủ về PPP cảng biển bao gồm các vấn đề về Khuôn khổ chính sách PPP, Mô hình hợp đồng PPP, Quy định về phân bổ và quản lý rủi ro, Cơ chế giải quyết tranh chấp, Tổ chức thực hiện....; Xây dựng danh mục các dự án cảng biển dự kiến huy động vốn đầu tư theo hình thức PPP. Đề xuất một số dự án cảng biển thí điểm áp dụng PPP.../.

 

Theo Nguyễn Huy Hoàng - Viện Chiến lược và phát triển GTVT